banner logo

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA GIỮA KÌ II MÔN NGỮ VĂN 12

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

 

   TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG                                        ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

                     PHẠM PHÚ THỨ                                               KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II

                               TỔ NGỮ VĂN                                                        NĂM HỌC 2025-2026

   GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT                             Môn: Ngữ văn, lớp 12  

          

A. CẤU TRÚC ĐỀ

- Hình thức: Tự luận

- Gồm 02 phần: Đọc hiểu (6 câu) + Viết (Viết bài văn NLXH)

 

 

Phần

Năng lực

Mạch nội dung

Mức độ tư duy

 

Tổng

% điểm

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Số câu

Tỉ lệ

Số câu

Tỉ lệ

Số câu

Tỉ lệ

I

Đọc hiểu

VB văn học

(Văn, thơ của

Hồ Chí Minh/Kí)

2

15%

3

30%

1

15%

 

60%

II

Viết

Nghị luận xã hội

1*

10%

1*

15%

1*

15%

40%

Tỉ lệ %

25%

45%

30%

100%

Tỉ lệ chung

70%

30%

B. NỘI DUNG ÔN TẬP

- Bài 6: Hồ Chí Minh - “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”

- Bài 7: Sự thật trong tác phẩm kí

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

06 câu hỏi dạng tự luận, gồm 02 câu Biết, 03 câu Hiểu, 01 câu Vận dụng

Nội dung câu hỏi trong phần đọc hiểu xoay quanh các yêu cầu cần đạt sau:

1. Đối với văn bản văn học

* Đọc hiểu nội dung

- Phân tích được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm; đánh giá được vai trò của những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản.

- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích sự phù hợp giữa chủ đề, tư tưởng và cảm hứng chủ đạo trong văn bản.

- Phân tích và đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm; phát hiện được các giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ văn bản.

* Đọc hiểu hình thức

- Phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.

- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố, giá trị thẩm mĩ trong thơ.

- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của phóng sự, nhật kí hoặc hồi kí như: tính phi hư cấu và một số thủ pháp nghệ thuật như: miêu tả, trần thuật; sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, thái độ và đánh giá của người viết,...

* Liên hệ, so sánh, kết nối

- Vận dụng được những hiểu biết về tác giả Hồ Chí Minh để đọc hiểu một số tác phẩm của tác giả này.

- Nhận biết và phân tích được quan điểm của người viết về lịch sử, văn hoá, được thể hiện trong văn bản.

- Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống và kiến thức văn học để đánh giá, phê bình văn bản văn học, thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về văn bản văn học.

- Phân tích và đánh giá được khả năng tác động của tác phẩm văn học đối với người đọc và tiến bộ xã hội.

- Vận dụng được kiến thức về lịch sử văn học và kĩ năng tra cứu để sắp xếp một số tác phẩm, tác giả lớn theo tiến trình lịch sử văn học; biết đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để có đánh giá phù hợp.

2. Đối với phần tiếng Việt:

- Bài 6: Một số biện pháp làm tăng tính khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận

- Bài 7: Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật

* Lưu ý: Ôn tập thêm về các biện pháp tu từ

II. VIẾT (4,0 điểm)

Ôn tập các dạng bài Viết ở Bài 6, 7

Bài 6: Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án

Bài 7: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ ( Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)

DÀN Ý

  • Mở bài

Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn đề đó.

  • Thân bài

- Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận.

- Nêu ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề được bàn luận.

- Trình bày quan điểm và đề xuất cách ứng xử đúng đắn, tốt đẹp trước vấn đề được đề cập.

- Sử dụng lí lẽ và bằng chứng để chứng minh cho quan điểm của mình.

- Phản biện một số quan điểm trái chiều.

  • Kết bài

Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân

C. ĐỀ MINH HOẠ:

ĐỀ 1

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

HẠT GẠO XÔI MỚI

Hôm nay vừa đầy tám ngày, ngày nào trong nhà ông Quyết cũng thấy họ mạc[1] kéo đến tấp nập.

Có gì đâu? Ông ta phải “sửa xôi mới”.

Với làng Th. của ông Quyết cũng như với nhiều làng khác, xôi mới vẫn là một lễ long trọng. Hễ làng chưa làm lễ ấy, các nhà không ai được ăn, hoặc cúng, hay bán thứ gì bằng nếp. Người nào phạm vào điều đó sẽ bị bắt vạ tức thì.

Là vì theo tục thôn quê, nghề gì cũng có tiên sư[2], tiên sư của nghề làm ruộng là ông Thần nông. Muốn đền cái ơn dạy dân cấy gặt và muốn cầu cho suốt năm mưa thuận, gió hòa, hàng năm, đến mùa lúa chín, người ta phải tế ông ấy bằng ba mâm xôi bằng gạo nếp mới, ý nghĩa của lễ xôi mới là vậy.

Cho được tỏ lòng thành kính đối với quỷ thần, làng lại bắt buộc gạo ấy phải do người làng làm ra, không được mua sẵn ở chợ, sợ rằng gạo chợ không được tinh khiết. Bởi vậy, làng đã để riêng một mẫu ruộng tốt, mỗi năm, chiếu theo ngôi thứ giao cho bốn người cày cấy. Rồi khi gặt lúa, mỗi người phải thổi cho làng một nồi gạo xôi.

Ruộng ấy, năm nay đến lượt ông Quyết được cấy một phần.

“Việc thờ” không phải chuyện chơi. Trước kia, mỗi lần cày ruộng, gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ, lần nào ông cũng phải sửa cỗ xôi con gà ra đình lễ thánh để trình công việc của mình, và lần nào ông cũng được có anh em họ hàng giúp hết mọi việc, không phải thuê mướn một buổi nào hết. Cố nhiên, được người làm giúp, nhà chủ vẫn phải tốn hơn thuê người làm mướn, vì phải cung đốn bà con một bữa cơm rượu xứng đáng với hảo tâm của họ. Nhưng ở nhà quê, nếu không được thế, sẽ bị người ta chê cười, cho nên dù có phí tổn ông cũng chẳng quản.

Bây giờ “việc thờ” đã sắp đến ngày hoàn thành, số người làm giúp lại đông gấp mấy, thời kỳ làm giúp cũng dài gấp mấy khi trước. Bắt đầu từ hôm lúa chín, bên nội, bên ngoại đã có hơn hai chục người gồng quang xách liềm ra ruộng, cắt lúa cho ông. Ấy là chưa kể những người ở nhà làm đồ uống rượu. Nhà ông có bao nhiêu ruộng cấy nếp, người ta chỉ gặt một buổi là xong.

Hôm sau, họ mạc lại đến đông đủ.

Lúa cắt hết rồi, còn có việc gì để người ta làm?

May quá, trong giống lúa nếp, bao giờ cũng có nhiều cây lúa nghển.

Nghển là một thứ dở nếp dở tẻ, bởi khi hoa cái lúa nếp phơi màu, phấn của hoa đực lúa tẻ ở các ruộng khác bay vào, rồi nó chung đực cho hạt lúa nếp pha lẫn tính chất lúa tẻ. Đến khi gieo mạ, những hạt lúa ấy mọc lên, thành cây lúa nghển.

[…]

Ở mọi nhà, họ cứ để nguyên đống lúa, sai lũ trẻ con rút đi một lượt là hết. Đằng này ông Quyết thừa người, việc ấy đã hóa ra việc quan trọng. […]

Tuy vậy, bấy nhiêu công việc, cũng chỉ làm trong một ngày là xong. Qua bữa thứ ba, người ta lại cùng nhau kéo đến để giúp ông về việc phơi lúa.

[…] Lúa phơi hai ngày thì già. Sang bữa thứ năm, bà con lại chiếu lệ kéo đến xay, giã.

Bây giờ công việc đã có trật tự, người ta cắt những chàng trai khỏe mạnh đội gạo đi giã, còn các ông già, bà già thì phải ở nhà trông coi, hoặc là bổ cau, têm trầu, xào nấu các món ăn uống.

Luôn hai ngày nay, các cối giã gạo trong xóm đều phải nhường chỗ cho hạt gạo thờ. Mấy nhà gần đó luôn luôn có tiếng xì xọp.

Liền trong tám ngày, tôi thấy ngày nào vợ ông cũng phải hai lần gồng thúng đi chợ để mua đồ ăn. Mỗi bữa thường thường có bảy tám mâm uống rượu. […]        

Việc này bác cháu cũng phải tốn đến dăm chục.

Mấy anh sang giã gạo nhờ ở nhà tôi trọ nói với tôi như thế khi họ nghỉ việc lên chỗ tôi ở để hút thuốc lào.

Ngạc nhiên tôi hỏi: “Nghe nói lệ làng chỉ có một nồi xôi gạo thôi mà! Ông ấy tiêu gì mà hết đến bấy nhiêu tiền?”.

Họ đáp: “[…] Để cháu xin nói cho ông nghe: “Phần ruộng của làng chia cho bác cháu năm nay, tất cả là hai sào rưỡi. Nếu như gặp năm được mùa, số ruộng ấy cúng được mười lăm nồi thóc, thừa để xôi làng. Nhưng lỡ phải năm mất mùa, nó chỉ được một, hai nồi thì làm thế nào? Vì thế bác cháu đã phải thuê thêm hơn hai sào nữa, dự phòng chỗ hao hụt đó […] Vả lại, từ hạt thóc làm ra hạt gạo, có phải dễ đâu? Luôn tám hôm nay, hôm nào họ mạc giúp đáp cũng phải chè chén. Chúng cháu tính ra mỗi ngày hà tiện cũng hết độ bốn đồng. Thế mà gạo đã được đâu? Còn phải giã thêm hai, ba ngày nữa. Giã đến khi nào hạt gạo bóng nhoáng, cám ở trong gạo trắng như vôi mới thôi!”.

[…]

Rồi họ kết luận: “Bác cháu lo xong việc này cũng không còn gì. Hôm qua đã phải bán một cái chum đựng nước lấy tiền mua rượu”.

Thì ra hạt gạo xôi mới có khi là cả gia tài của người ta.

(Trích Việc làng, Ngô Tất Tố, NXB Văn học, 2024, tr.70-75)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,75 điểm). Theo đoạn trích, vì sao ngày nào trong nhà ông Quyết cũng thấy họ mạc kéo đến tấp nập?

Câu 2 (0,75 điểm). Xác định thời gian, địa điểm có tính xác thực được nhắc đến trong đoạn trích.

Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của ngôn ngữ thân mật trong đoạn văn sau:

Để cháu xin nói cho ông nghe: “Phần ruộng của làng chia cho bác cháu năm nay, tất cả là hai sào rưỡi. Nếu như gặp năm được mùa, số ruộng ấy cúng được mười lăm nồi thóc, thừa để xôi làng. Nhưng lỡ phải năm mất mùa, nó chỉ được một, hai nồi thì làm thế nào? Vì thế bác cháu đã phải thuê thêm hơn hai sào nữa, dự phòng chỗ hao hụt đó […] Vả lại, từ hạt thóc làm ra hạt gạo, có phải dễ đâu? Luôn tám hôm nay, hôm nào họ mạc giúp đáp cũng phải chè chén.

Câu 4 (1,0 điểm). Cảnh nhà ông Quyết cùng họ mạc kéo đến tấp nập chuẩn bị cho “lễ xôi mới” phản ánh hiện thực gì ở nông thôn Việt Nam xưa?  

Câu 5 (1,0 điểm). Nêu thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc qua đoạn trích trên.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           

Câu 6 (1,5 điểm). Theo anh/chị, nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Vì sao? (Trình bày từ 5-7 câu).

II. VIẾT (4,0 điểm)

Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về cách tạo thiện cảm với mọ người xung quanh.

---Hết---

ĐỀ 2

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc bài thơ sau:

Phiên âm

ĐỐI NGUYỆT

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,

Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền.

Quân cơ quốc kế thương đàm liễu,

Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.

Dịch nghĩa

 

VỚI TRĂNG

Ngoài cửa sổ, ánh trăng lồng trên cây cổ thụ,

Ánh trăng nhích bóng cây đến trước cửa sổ.

Việc quân, việc nước đã bàn bạc xong,

Xách gối đến bên cửa sổ, nằm ngủ trước ánh trăng.

Dịch thơ

ĐỐI TRĂNG

Ngoài song trăng rọi cây sân,

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.

Việc quân, việc nước bàn xong,

Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.

NAM TRÂN dịch, (Hồ Chí Minh, Tuyển tập văn học, NXB Văn học, Hà Nội, 2005, tr. 736)

* Bài thơ Đối nguyệt được Hồ Chí Minh sáng tác tại chiến khu Việt Bắc, trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954).

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0.75 điểm). Chỉ ra dấu hiệu nhận biết thể thơ ở phần phiên âm.

Câu 2 (0.75 điểm). Hãy chỉ ra câu thơ ở phần dịch thơ thể hiện hành động của Hồ Chí Minh sau khi bàn xong việc quân, việc nước.

Câu 3 (1.0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong hai câu thơ sau:

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,

Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền.

(Ngoài song trăng rọi cây sân,

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.)

Câu 4 (1.0 điểm). Nêu vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh được thể hiện qua bài thơ.

Câu 5 (1.0 điểm). Anh/Chị hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa sâu sắc từ bài thơ.

Câu 6 (1.5 điểm). Từ tình cảm của tác giả trong hai câu thơ cuối, anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước? (Trình bày từ 5 – 7 câu).

II. VIẾT (4.0 điểm)

Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về bàn về cách ứng xử của tuổi trẻ trước những kì vọng từ gia đình.

---Hết---

                                                          

 

TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN                           NHÓM TRƯỞNG CHUYÊN MÔN

 

 

 

Lương Thị Yến                                                           Trần Thị Oanh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Họ mạc: bà con họ hàng.

[2] Tiên sư: Người lập ra, bày ra và dạy lại một nghề trong quan hệ với những người theo nghề của mình ở các đời sau.

TRƯỜNG THPT PHẠM PHÚ THỨ

CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG

Ban biên tập Trang thông tin điện tử Trường THPT Phạm Phú Thứ

THÔNG TIN LIÊN HỆ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHẠM PHÚ THỨ

Điện thoại: 02363.793.223

Email: thptphamphuthu@gmail.com

Địa chỉ: Hòa Sơn - Huyện Hòa Vang - Thành phố Đà Nẵng.